RÈN LUYỆN TƯ DUY TỰ HỌC

каталог мультфильмов 2010
каталог игр на пк 2012

ĐỀ TÀI

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TỰ HỌC Ở HỌC SINH

TRONG DẠY HỌC SINH HỌC BẬC THPT

A. MỞ ĐẦU

Tự học là gì ?

Theo lí thuyết về học: “Học cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu nhận, xử lí và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong của bản thân”.

Tự học là khả năng của người học tự thực hiện một cách có hiệu quả hoạt động học. Kỹ năng tự học có các đặc điểm: người học có cách học, sử dụng cách học tác động vào nội dung, chuyển nội dung từ môi trường ngoài thành kiến thức của bản thân, làm cho chủ thể phát triển và thích ứng với môi trường.

Vì sao cần phải hình thành kỹ năng tự học ở học sinh ?

Xuất phát từ yêu cầu cơ bản của nhiệm vụ phát triển trong quá trình dạy học hiện nay là nâng cao tính tích cực, tính độc lập, tính sáng tạo của học sinh trong hoạt động nhận thức và trong hành động thực tiễn nhằm bảo đảm mục tiêu đào tạo những người công dân làm chủ, những người lao động sáng tạo phù hợp với xu thế phát triển của thời đại mới - Thời đại của kinh tế tri thức (kinh tế chủ yếu dựa vào tri thức và thông tin). Trong nền kinh tế tri thức, nông nghiệp và công nghiệp đã được tri thức hoá để hiện đại hoá mang lại hiệu quả rất cao. Những vấn đề này đều kỳ vọng vào quá trình học tập của học sinh. Để đáp ứng được những yêu cầu đó, giáo viên phải có nhiệm vụ rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự học, tự nghiên cứu nâng cao tri thức chuẩn bị tốt cho ngành nghề tương lai. Vì thế việc “hình thành kỹ năng tự học ở học sinh” là hết sức cần thiết.

B. NỘI DUNG

Những yếu tố nào cần thiết cho quá trình hình thành kỹ năng tự học ở học sinh ?

Học sinh trường THPT Hùng Vương nói chung hay chỉ bộ môn sinh học nói riêng để hình thành kỹ năng tự học ở học sinh phải có sự thực hiện đồng bộ giữa hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh. Giáo viên là người khởi xướng, người dẫn chương trình tự học của học sinh. Giáo viên phải biết cách giáo dục cho học sinh yêu thích môn học, hướng dẫn - tổ chức - trọng tài - cố vấn, kết luận, kiểm tra. Học sinh phải có ý thức tự giác học tập, tự nghiên cứu theo hướng dẫn của giáo viên → tự thể hiện qua bài làm, báo cáo trước nhóm, lớp, giáo viên → tự kiểm tra và tự điều chỉnh.

Ngoài ra cơ sở vật chất phục vụ tự học ở học sinh cũng không kém phần quan trọng: sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, câu lạc bộ internet, phòng học, chất lượng phục vụ thư viện,…

Biện pháp thực hiện

Hướng dẫn học sinh tự học có thể được giáo viên thực hiện qua nhiều hình thức khác nhau. Sau đây là vài hình thức thường được giáo viên vận dụng:

1. Kỹ năng làm việc với sách giáo khoa và các tài liệu giáo khoa khác (sách bài tập, sách tham khảo, tạp chí giáo dục,…)

Vai trò của sách giáo khoa ?

Sách giáo khoa luôn luôn là công cụ của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học. Sách giáo khoa chỉ phát huy hiệu quả khi cả hai đối tượng này đồng pha trong việc khai thác sử dụng tiềm năng của nó để dạy học hiệu quả nhằm đạt mục tiêu giáo dục mà chương trình quy định. Với giáo viên, sách giáo khoa định hướng phân tích, lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện tổ chức dạy học. Với học sinh, sách giáo khoa là nguồn kiến thức chính để tra cứu, gia công trí tuệ dưới sự tổ chức của giáo viên qua đó chiếm lĩnh tri thức khoa học. Các tài liệu giáo khoa khác sẽ hỗ trợ sách giáo khoa trong quá trình dạy học.

Cách tổ chức học sinh làm việc với sách giáo khoa trong dạy học sinh học ở bậc THPT

Do lượng kiến thức trong sách giáo khoa quá dài so với thời lượng một tiết học nên giáo viên cần tăng cường hướng dẫn học sinh tự soạn bài qua làm việc với sách giáo khoa.

Giáo viên yêu cầu mỗi học sinh phải có đầy đủ sách giáo khoa, giáo viên định hướng cho học sinh đọc sách giáo khoa ở nhà trước khi đến lớp học bài mới có thể bằng cách đưa ra một vài câu hỏi phát hiện để học sinh chuẩn bị trước. Đến lớp, giáo viên giúp học sinh lập dàn ý, gọi học sinh trả lời các câu hỏi đó và giúp học sinh hoàn thiện kiến thức. Khi dạy có thể gợi ý cho học sinh gạch dưới những nội dung chính của phần phụ trong sách giáo khoa về nhà soạn bài, dành nhiều thời gian trên lớp để thảo luận và ghi nhận lại những vấn đề trọng tâm, khó giúp học sinh hiểu bài và vận dụng tốt. Cuối tiết dạy, giáo viên dành thời gian hướng dẫn học sinh trả lời câu hỏi khó cuối bài trong sách giáo khoa, các câu hỏi còn lại yêu cầu học sinh tự giải ở nhà. Bên cạnh đó, giáo viên có thể giới thiệu các tài liệu giáo khoa khác có liên quan đến bài học cho học sinh khai thác thêm để mở rộng, khắc sâu kiến thức, học sinh thêm yêu thích môn học. Giáo viên phải thường xuyên kiểm tra bài cũ, kiểm tra chuẩn bị bài mới và nhất là kiểm tra tập của học sinh xem học sinh có biết cách soạn bài và soạn bài đầy đủ không để từ đó giáo viên kịp thời điều chỉnh cách làm và giúp đỡ học sinh.

Ví dụ: dạy bài 12: Di truyền liên kết với giới tính và di truyền ngoài nhân (SGK sinh học 12 cơ bản)

Đây là một trong những bài có nhiều vấn đề khó, lượng kiến thức quá dài so với thời gian một tiết học. Giáo viên thường dạy không kịp giờ, chỉ có thể dạy theo cách tăng cường hướng dẫn học sinh về nhà tự soạn bài. Cụ thể ở phần I. Di truyền liên kết với giới tính như sau:

Trước khi học bài này, giáo viên có thể đưa ra câu hỏi định hướng cho học sinh đọc trước sách giáo khoa ở nhà và tìm hiểu sự di truyền của gen nằm trên nhiễm sắc thể giới tính có gì khác so với sự di truyền của gen nằm trên nhiễm sắc thể thường. Học sinh buộc phải đọc qua bài trong sách giáo khoa, có thể soạn không đủ ý và còn mập mờ vài nội dung nhưng dù sao học sinh cũng đã nắm qua kiến thức bài học, sẽ có thắc mắc và sẽ dễ hiểu bài, hiểu bài nhanh khi đến lớp học nghe giáo viên dạy.

Đến lớp, giáo viên dạy theo trình tự dàn bài:

Phần I.1 định hướng học sinh khai thác hình 12.1 và hình về bộ NST của ruồi giấm, người,… học sinh thảo luận và về nhà soạn bài theo các câu hỏi: thế nào là NST giới tính ? Cấu tạo NST giới tính XY có gì khác so với NST thường ? Các loài sinh vật nào có kiểu XX-XY và XX-XO ?

Phần I.2a (Trọng tâm bài) Giáo viên yêu cầu học sinh thông báo thí nghiệm phép lai thuận, phép lai nghịch ở ruồi giấm của Moocgan (phần này học sinh về nhà ghi bài như sách giáo khoa) và yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi: Kết quả thí nghiệm trên khác gì với kết quả thí nghiệm lai thuận nghịch của Menđen ? Tính trạng mắt trắng phổ biến ở giới nào ? Giải thích. Giáo viên sẽ hoàn chỉnh câu trả lời của học sinh và hướng dẫn học sinh ghi nội dung này tại lớp (vì rất quan trọng vận dụng giải bài tập). Giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác hình 12.2 và yêu cầu học sinh lên bảng viết sơ đồ lai.

Đến đây giáo viên có thể gọi học sinh trả lời câu hỏi chuẩn bị trước ở nhà và từ đó rút ra đặc điểm của sự di truyền gen trên NST X: kết quả lai thuận nghịch khác nhau, có hiện tượng di truyền chéo (học sinh ghi nội dung này tại lớp).

Phần I.2b,c giáo viên nêu các câu hỏi cho học sinh thảo luận: Gen trên Y có di truyền chéo như gen trên X không ? Tại sao ? Nghiên cứu DTLKVGT có ý nghĩa gì cho chăn nuôi ? Nêu VD? Giáo viên hoàn thiện kiến thức cho học sinh và yêu cầu học sinh gạch dưới các ý chính trong sách giáo khoa về nhà tự soạn bài. Giáo viên giới thiệu thêm VD khác và khích lệ học sinh tìm kiếm thêm VD minh hoạ cho phong phú thêm bài học. Cuối bài dạy, giáo viên hướng dẫn học sinh trả lời câu hỏi 2 trong sách giáo khoa, các câu khác về nhà tự giải. Giáo viên hướng dẫn học sinh tự học bằng cách cung cấp cho học sinh một số bài tập vận dụng về nhà giải, giới thiệu cho học sinh sách bài tập để học sinh tự nghiên cứu.

2. Dạy học theo nhóm

Là kết hợp giữa hoạt động cá nhân với hoạt động tập thể, kết hợp giữa đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của học sinh, là hoạt động trong đó người dạy tổ chức cho người học hoạt động hợp tác với nhau trong các nhóm nhằm đạt mục tiêu học tập, góp phần hình thành và phát triển năng lực hoạt động nhóm: kỹ năng tìm thông tin, trao đổi thông tin, giao tiếp, tự tin khi trình bày ý kiến trước tập thể.

Dạy học theo nhóm có thể thực hiện ở vài đơn vị kiến thức dạy trên lớp, học sinh học nhóm ngoài giờ học trên lớp: giải bài tập, trả lời câu hỏi, làm chuyên đề,…và thể hiện rõ nhất ở bài dạy thực hành.

Ví dụ: dạy bài 43: Thực hành: Nhân giống vô tính ở thực vật bằng giâm, chiết, ghép (SGK sinh học 11 cơ bản) giáo viên hướng dẫn học sinh tự học bằng cách giao nhiệm vụ cho các nhóm thực hiện các thí nghiệm theo yêu cầu sách giáo khoa, nghiên cứu thêm trong các tài liệu tham khảo và tìm hiểu ở các nhà làm vườn kinh nghiệm kỹ thuật ghép cây như thế nào đạt hiệu quả. Giáo viên nên cộng điểm cho nhóm học sinh thực hiện tốt để kích thích tính tích cực của học sinh.

3. Dạy học trực tuyến

Dựa trên công nghệ thông tin, công cụ máy tính, môi trường web, là hình thức học tập mới đã mang đến cho người học một môi trường học tập hiệu quả với tinh thần tự giác và tích cực.

Đặc thù của môn sinh học là có rất nhiều phim, hình ảnh, sơ đồ động,…minh hoạ về cấu trúc, các quá trình, diễn biến,… mà sách giáo khoa không thể đăng tải được hết nên phải nhờ các công cụ trực tuyến. Nó tạo ra không gian để người giáo viên có thể thoải mái sáng tạo, lựa chọn các tài liệu, phim ảnh minh hoạ có mục đích và có chọn lựa với mục tiêu mở ra con đường để học sinh tự tìm ra kiến thức, hỗ trợ rèn luyện khả năng tự học ở học sinh.

Trong quá trình giảng dạy, giáo viên định hướng cho học sinh ôn tập, luyện tập bài tập, thực hiện chuyên đề,…bằng cách sử dụng công nghệ thông tin (internet, website), tham khảo tài liệu sẵn có trên mạng → lựa chọn và biến kiến thức đó trở thành kiến thứccho cá nhân. Thông qua hệ thống tư liệu tham khảo giúp học sinh thuận tiện cho việc tự khám phá kiến thức, giải đáp những thắc mắc, rèn luyện kỹ năng giải bài tập, kỹ năng tự học. Nó giúp học sinh mở rộng kiến thức học trên lớp, minh hoạ nhiều ví dụ, phim ảnh, vận dụng thực tế làm cho bài học trở nên sinh động hơn, tăng cường tính hấp dẫn, thu hút người học hơn.

Ví dụ: dạy bài 32: Tập tính của động vật (SGK sinh học 11 cơ bản) giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tìm kiếm trên mạng những đoạn phim về tập tính ở động vật và tự học sinh suy luận để nhận ra tập tính kiếm ăn, bảo vệ lãnh thổ, sinh sản, di cư, xã hội. Học sinh tự tìm ra những ví dụ về ứng dụng tập tính trong chăn nuôi, huấn luyện động vật làm xiếc,… ngoài kiến thức sách giáo khoa. Từ đó giúp bài học thêm phong phú, sinh động và học sinh yêu thích môn học hơn.

Trong giảng dạy lớp chuyên, đội tuyển, do giờ học trên lớp rất ít không thể đáp ứng đủ lượng kiến thức chuyên sâu trong các đề thi HSG các cấp nên học sinh cần tăng cường rèn luyện kỹ năng tự học, tự nghiên cứu. Giáo viên định hướng cho học sinh tìm kiếm trên mạng các đề thi, bài tập, nội dung liên quan đến bài học; tự nghiên cứu mở rộng kiến thức qua các tài liệu tham khảo chuyên sâu, tự soạn chuyên đề, trao đổi trong nhóm đội tuyển, mạnh dạn trao đổi những thắc mắc với giáo viên bộ môn,…

C. KẾT QUẢ THỰC HIỆN

Thực tế hơn mười năm giảng dạy và qua trao đổi với các đồng nghiệp ở các trường bạn cho thấy khả năng tự học của học sinh thường thể hiện rõ ở đa số học sinh khá, giỏi, học sinh say mê yêu thích môn sinh học. Ngoài học ở trường, ở nhà, các em còn vào thư viện tra cứu các tài liệu, sưu tầm những nội dung có liên quan đến bài học và tự soạn ra chuyên đề để học.

Tuy nhiên có một số học sinh chưa thể hiện tốt khả năng tự học do bộ môn sinh học không thuộc khối thi Đại học của các em; do các em đi học thêm quá nhiều nên không có thời gian tự học; do các em lười làm việc chỉ thụ động tiếp nhận kiến thức truyền đạt của giáo viên; do một số giáo viên chưa nhiệt tình ủng hộ, giúp đỡ học sinh tự học; do tình trạng thiếu thốn cơ sở vật chất phục vụ dạy học;…Chính vì thế, việc tổ chức cho học sinh tự học là vấn đề vô cùng khó khăn và cần phải được bàn luận nhiều để đưa ra những giải pháp hữu hiệu.

D. KẾT LUẬN

Hình thành khả năng tự học cho học sinh là rất quan trọng, giúp học sinh đạt được hiệu quả cao trong học tập, vừa nâng cao được kiến thức môn học vừa rèn luyện được thói quen, năng lực tự học, lao động sáng tạo suốt đời, quyết định tới chất lượng hành nghề của học sinh sau khi ra trường.

Để hình thành kỹ năng tự học ở học sinh một cách hiệu quả cần có những nghiên cứu cụ thể về biện pháp tác động tới những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tự học nói chung và năng lực tự học bộ môn sinh học nói riêng của học sinh để từ đó nâng cao chất lượng học tập của học sinh đáp ứng với mục tiêu đào tạo của Luật giáo dục: “Phải coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo…”.

купить смартфон nokia
купить фоторамки