Home Tin tức học tập Sáng tác TẢN MẠN THỜI ĐÃ XA

TẢN MẠN THỜI ĐÃ XA

 

                                      Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

                                     Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn 

        Anh bạn tôi trong tiệc liên hoan chia tay Trường về Hà Tĩnh công tác vừa nâng trên tay cốc bia vừa ngân nga hai câu thơ của Chế Lan Viên trong bài thơ “Tiếng hát con tàu” để giã từ mảnh đất Cự Nẫm, từ giã mái trường THPT số 2 Bố Trạch đầy nắng gió sau hơn 10 năm gắn bó làm tôi nao lòng.

          Với tôi, chẳng đợi đến giây phút ấy, mà ngược laị, đất này đã hóa tâm hồn từ lâu rồi. Bởi thế đã chọn nơi này để định cư, coi nơi đây là quê hương thứ hai của mình. Dù năm tháng sẽ trôi qua, sự đời có “vật đổi sao dời” thì sự gắn bó này vẫn thấm sâu vào máu thịt.

          Ở vào cái tuổi sắp lục tuần, gần” hạ cánh” sau chặng đường dài 36 năm trên chuyến bay mang tên”gõ đầu trẻ”, nhìn lại quãng đời 33 năm đứng trên bục giảng tại mái trường này, tôi cảm thấy bâng khuâng xao xuyến đến bồi hồi  bởi quen mà như lạ, mỗi ngày đến trường là đón nhận một niềm vui. Đứng ngắm ngôi trường cao tầng  khang trang, sạch đẹp, ngắm những tà áo trắng nữ sinh thoảng bay trong gió, nghe tiếng thầy trò nói cười râm ran, nhìn những dòng xe xuôi ngược tấp nập trên quốc lộ 15A, trông những thảm lúa Cự Nẫm chín vàng óng ả cạnh những mái ngói đỏ tươi của làng xóm trù phú tôi không khỏi chạnh lòng bởi những năm tháng chưa xa lại hiện về một cảm giác buồn vui lẫn lộn thật khó tả.

            Tôi thuộc thế hệ thứ hai có mặt tai trường sau hai năm thành lập, cùng chung lưng đấu cật chịu đựng gian khổ cùng với các anh chị lớp trước. Vào những ngày đầu ấy, trường như một đứa con mới lập gia đình ra riêng, trăm bề túng thiếu lạ lẫm lại đứng chân trên mảnh đát vốn là điểm nóng thời chiến tranh, hiểm họa khôn lường.

          Đã thế, thiên nhiên , địa hình địa vật lại chẳng mấy ưu đãi; khí hậu vùng gò đồi rất khắc nghiệt ; trường là một cụm nhà trơ trọi  giữa quả đồi xung quanh toàn sim mua, hiếm gặp một bóng cổ thụ nào. Trước mặt, con đường 15A mịt mù bụi mùa hè và lầy lội, ngập ngụa đầy ổ voi mùa mưa. Có rừng thông mênh mông nhưng cây mới chỉ ngang đầu người chưa chịu cho bóng mát. Hồ Bàu Trạng vì thế mùa hè nứt đáy, kiếm cho ra gàu nước để ăn uống phải vào chắt giếng Giao thông hay đội 5. Đứng từ trường mà nhìn quanh một vòng chỉ thấy đồi là đồi, hoang vu đến rợn người. Trường đặt ở nơi trước đây là trận địa pháo cao xạ và kho quân nhu của trạm trung chuyển quân đội nên bị máy bay oanh kích dữ dội, rất nhiều chiến sĩ ta đã hy sinh tại đây nên những ai yếu bóng vía, mê tín, ban đêm không dám ra khỏi phòng.

         Trường lại ra đời vào thời hậu chiến, phải oằn lưng chịu đựng bao nỗi nhọc nhằn của gánh nặng nền kinh tế ọp ẹp thời bao cấp như là số phận chung của những ai sống trong thời kỳ đó.

         Tôi còn nhớ ngày đầu về nhận công tác tại trường, nhìn mọi thứ tôi hơi hoảng vì cuộc sống bị xáo trộn hoàn toàn (tôi vốn công tác tại Trường Hai Giỏi Bình Trị Thiên đóng tại Đồng Hới, nơi có đủ điện nước và môi trường làm việc thuận lợi vì trường được bao cấp hoàn toàn, thầy trò đều ăn ở tập thể, chuyện cơm áo gạo tiền có các ban bệ lo). Nay mới “ra riêng” thật sự, phải tự biên tự diễn hoàn toàn. Tôi cũng như hàng chục đồng nghiệp khác phải  lo sắm soong nồi bát chảo, tự chợ búa, nấu nướng, cái trò chẳng thú vị gì với tuổi con trai. Nhưng cái tật lười không sao chữa được, cái kiểu nấu một nồi ăn hai bữa, siêng đi chợ nhác lại thôi khiến chúng tôi vài ba anh chung một nồi, đổi nhau cho đỡ mệt. Những cái bỏ vào nồi thì quá ư lôi thôi. Lương thực tiêu chuẩn mỗi tháng 13 kg thì tiết kiệm  2 kg. Hàng tháng cả đoàn đạp xe cọc cạch vượt quãng đường hơn chục cây số lầy lội đầy ổ voi đến cửa hàng lương thực Khương Hà chầu chực đôi ba lần mới mua được 5-7 kg lúa lẫn sắn có khi bị mốc hoặc lẫn phân chuột.

       Chợ Thọ Lộc 5 ngày một lần họp, ai nhanh tay nhanh chân thì kiếm được chút tươi tươi, ai bận hặc chậm phải xài tạm cá khô, mắm hay nước mắm trở mùi chờ phiên khác. Có lần, trời vừa mưa rào tạnh, mấy anh em trong nhà nội trú chúng tôi bắt cóc cải thiện, nào ngờ vì sơ suất mà bị ngộ độc suýt bỏ mạng phải nghỉ dạy cả tuần. Lần khác, sau đợt nắng to kéo dài bỗng chập tối một trận mưa rào như trút , chúng tôi hứng nước từ mái ngói để dùng ăn uống . Sau một đêm uống thoải mái, sáng ra mới thấy đáy xô toàn phân gà (vì gà chúng tôi nuôi năm học trước sợ chồn thường trèo lên ngủ nóc nhà) , khạc nhổ lúc này cũng vô ích cả đoàn ôm nhau cười trừ.

      Nhìn bữa cơm “chay” của chúng tôi mà cám cảnh: chềnh ềnh giữa soong là những khúc sắn to đùng cõng những hạt cơm bu bám xung quanh như cồi bắp dùng với nồi canh “toàn quốc” và mấy cọng rau khoai với nước chấm “đại dương”.

        Trong cái khó ló cái khôn, Công đoàn, Nhà trường phát động anh chị em tranh thủ thời gian rảnh khai hoang vỡ hóa, làm ruộng “bung” cấy lúa, trồng rau màu, chăn nuôi lợn, gà để cải thiện. Công đoàn chấm và khen thưởng những ai thu hoạch được nhiều, mọi người ra sức làm, cứ rời bục giảng là xắn tay ngay, có khi mệt quá, chúng tôi đùa nhau: “Thầy giáo là những nông dân cá thể có nghề phụ dạy học” hoặc”Thầy giáo tháo giày đi chân đất”.

           Thấy chúng tôi thiếu thốn, vất vả, hợp tác xã Cự Nẫm cho chúng tôi mượn đất để làm lúa nhưng phần lớn công làm đất,gống má, cấy hái, thu hoạch đều dựa vào phụ huynh và chủ yếu là học sinh. Tất nhiên là họ phải làm cho họ trước, đến lượt mình bao gờ cũng muộn thế là đến kỳ thu hoạch, mười phần, bò xơi mất bốn, ấy là chưa kể cái nỗi khổ đạp lúa giữa nền đất, phơi bằng chiếu, hạt trong hạt ngoài, cối chày chẳng có, nhờ học trò xay giã, đãi ra trước khi bỏ vào nồi thì nửa gạo nửa sạn đất.

            Sinh sống đã thế, còn sinh hoạt, công vụ cũng rất ngặt nghèo. Thiếu phòng nên phải học hai ca. Thường chẳng mấy ai có giấc ngủ trưa trọn vẹn. Thiếu giáo viên nên có người phải dạy tới 30 tiết/tuần. Họp hành đều dồn cả vào ban đêm, có khi bàn cãi để tháo gỡ khó khăn mãi 11 giờ mà chưa ngã ngũ. Tối tối, anh nào chị nấy lại cặm cụi bên ngọn đèn dầu lu bu mò mẫm soạn những trang giáo án trên loại giấy tái chế nâu quạch hoặc chấm bài, đọc sách tới khuya.

            Ngoài thời gian dạy trên lớp, chúng tôi còn phải cùng học sinh lao động phong quang, vệ sinh, làm đường, đào hào bảo vệ trường, làm nhà các kiểu, gieo và trồng các loại cây như bạch đàn, phi lao, điều với diện tích rất lớn; nấu dầu tràm, đào ao cá, hái củi bán cho thương nghiệp; phát quang vệ sinh rừng thông lấy tiền gom góp cùng với tự đào đá, làm gạch ngói tại lò Cự Nẫm để xây dựng trường. Cho dù vất vả, gian khổ và nguy hiểm khi phải đổ máu như vụ 27-12-1984 mà mọi người mãi không quên nhưng không hề làm một ai trong chúng tôi nao lòng nhụt chí vì thế hệ chúng tôi đã quen lắm với cảnh bom rơi máu đổ, lấy hầm làm nhà rồi , cái đói khát sợ sệt đáng gì so với dạo chiến tranh.

            Đành rằng phải gồng mình lo toan cho đời sống vật chất nhưng không vì thế mà chúng tôi sao nhãng nhiệm vụ trọng tâm là chuyên môn. Soạn giảng chấm chữa vẫn rất chu đáo, chúng tôi thường kiểm tra chéo lẫn nhau, dự giờ thăm lớp, đánh giá chuyên môn thường xuyên và rất gắt gao, có khi cãi nhau nẩy lửa chỉ vì sự tiến bộ của đồng nghiệp mình. Việc bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu làm thường xuyên, vì thế chất lượng ngày một nâng lên rõ rệt.

             Đừng tưởng gian khổ thế mà cuộc sống tâm hồn của thầy và trò thuở ấy lại khô khan, nhạt nhẽo. Sống xa trung tâm văn hóa, ngày đầu cả khu tập thể chẳng hề có lấy một chiếc radio để nghe tin tức hay ca nhạc, chúng tôi cứ chuyền tin nhau những tin tức quan trọng qua đọc những trang báo đã nhàu. Sau bữa cơm chiều, chúng tôi lại quây quần bên nhau, cùng nhau đồng ca những bài ca thời chiến hoặc bài hát mới, đặc biệt là bài hát ” Trường tôi” do thầy Như Lộc và Hải Vương sáng tác có nhạc đệm là tiếng ghi ta cũ bập bùng do thầy Minh, giáo viên dạy toán kiêm nhạc sĩ nhà quê trình tấu. Có lúc cao hứng, mỗi người  kẻ đũa, người môi, rồi kể cả soong nồi bát chảo cũng đem ra làm bộ gõ. Nghe tiếng, các cô bên nhà nữ cũng ùa tới góp vui. Những buổi “ca nhạc đường phố” ấy như xua đi bầu không khí vắng lặng của buổi chiều quê, xua đi nỗi nhớ nhà, vơi bớt nỗi nhọc nhằn sau một ngày vất vả, nhen lên ngọn lửa yêu nghề, yêu người.

            Rồi nữa là những buổi sinh hoạt chi đoàn giáo viên, chúng tôi thường dành nhiều thời gian cho các tiết mục văn nghệ  với phương châm “hát hay không bằng hay hát”. Trong thanh niên học sinh, mỗi tuần đều đặn 3 buổi ca múa hát tập thể, mỗi dịp như thế thầy trò cùng nắm tay nhau thành vòng tròn thướt tha như điệu xòe Thái.

             Cứ mỗi dịp kỷ niệm lớn là y như dân chúng lại đổ xô đến sân vận động của trường để được thưởng thức những tiết mục văn nghệ “cây nhà lá vườn” do thầy trò biểu diễn trình làng mà tên tuổi của một số diễn viên nghiệp dư đã để lại ấn tượng khó quên trong lòng khán giả như Tố Loan, Thúy Mười, Thanh Thủy… Say sưa đến mức  có diễn viên ngủ gật bên cánh gà sân khấu chờ đến lượt mình thì đã quá mất dù trời đã khuya.

           Có lẽ bận rộn nhất mà cũng thú vị nhất là những dịp cắm trại nhân kỷ niệm 26-3, cả thầy lẫn trò đều lăn xả vào, mỗi người một tay, bất kể nắng mưa, trưa tối. Ai cũng muốn trại mình nhanh nhất, đẹp nhất vui nhất… Ban ngày cắm, ban đêm sinh hoạt tại trại. Khuya phải ngủ canh trại, cả thầy lẫn trò đều trải chiếu ngủ đất. Thầy  phải thức canh chừng và làm biên giới cho hai gian nam nữ ; canh chừng những kẻ bất lương nhổ cọc néo hạ trại mình giữa đêm. Sau mỗi đợt cắm trại, ai nấy đều mệt nhoài như vừa ốm dậy, bù lại là niềm vui, là niềm giao cảm ấm áp tình nghĩa thầy trò, bạn bè.

         Có những lúc tôi thầm nghĩ rằng tại sao trong khó khăn gian khổ  mà ở một khoảng thời gian chưa xa, cũng chính tại nơi này con người lại bản lĩnh và yêu đời đến thế phải chăng là họ sống lâu trong cái khổ nên chẳng biết khổ là gì  hay chính cái khổ đã tạo nên nội lực cho con người vượt qua chính nó? Từ trong gian khổ, tình người càng ấm áp sâu nặng hơn.

           Ở đây, chúng tôi nhường nhau từng gáo nước, chia nhau từng điếu thuốc, lon gạo, từng câu chuyện nhà.  Ai đi đâu về kiếm được chút gì tươi là cùng nhau thưởng thức.  Những đêm rét chung chăn hoặc nam nữ quây quần bên bếp lửa , những câu chuyện tiếu lâm cứ thế mà nổ như ngô rang, cười đến vỡ bụng.Cãi nhau đến vã mồ hôi để tìm chân lý, có khi sửng cồ vì những chuyện không đâu nhưng khi một ai đau ốm thì “cả tàu bỏ cỏ”, cả trường nháo nhác âu lo.

      Thế đó, chính từ mái trường khổ luyện  này, đã ươm mầm bao tài năng, đã tôi luyện trưởng thành nhiều thế hệ cả thầy lẫn trò. Từ đây, bao bạn bè cùng trang lứa đã ra đi, họ đã là những cán bộ cốt cán ở nơi khác như cô Diện, thầy Phước, thầy Huấn, cô Càn, thầy Thành, thầy Linh, thầy Vương, thầy Thị ,thầy Á và có những thày cô trưởng thành tại trường như cô Phi Phượng, thầy Thủy, thầy Huyền. Cũng có những thế hệ học sinh của trường giờ đã đuổi kịp thầy cô đảm trách những cương vị chủ chốt như em Dũng, em Phương, em Hữu… Hoặc giữ những trọng trách khác nhau ở các lĩnh vực như chính quyền, quân đội, công an… mà không thể nhớ hết tên tuổi. Có những cựu học sinh của trường đã trở thành đồng nghiệp của tôi  và có mặt trong hàng ngũ cốt cán nhà trường như em Chung, em Chuyên, em Hương, em Trung…mà ông bà ta thường nói “măng mọc quá tre” quả không sai.

         Người xưa từng nói “ăn cơm mới nói chuyện cũ”. Tôi chẳng muốn “ôn sầu gợi khổ” làm gì khi nhắc lại những chuyện vặt vãnh ấy nhưng tôi cho đó là những mãnh ghép của cuộc sống mái trường này mà dù đi đâu về đâu chắc mọi người không dễ quên nó . Nhìn lại quá khứ để tự hào cho sự thay da đổi thịt hôm nay, để làm điểm tựa cho niềm tự hào về tương lai ngày mai. Để mừng cho ngôi trường bước vào tuổi 35, cái tuổi tráng niên đầy sung mãn tràn trề sức sống và chứa chan hy vọng về tương lai. Chính thành quả hôm nay đã được chắt chiu từ những bàn tay khối óc đầy trí tuệ của bao lớp người chung sức gây dựng dám vượt qua thử thách cam go để có được nó.

        Thế hệ chúng tôi giờ này chắc phần lớn đều đã vui thú điền viên, vui vầy bên con cháu, về với tổ ấm muôn nơi. Ở lại với cái xóm cạnh trường mà dân chúng gọi là” xóm cấp ba” chỉ còn bộ ba: thầy Vương, thầy Huyền và vợ chồng tôi. Tuy xa mặt cách lòng nhưng chắc không ai khỏi bồi hồi khi  hồi tưởng cảnh cũ trường xưa.

        Xin nhắc lại một thời để nhớ làm món quà quê  nhân dịp trường ta bước vào tuổi 35, dâng tặng bạn bè, đồng nghiệp và bao thế hệ học trò yêu quý, những ai đã ra đi, những ai còn  ở lại xin được nhận những lời cảm thông chia sẻ.

          Hãy cho tôi được mượn lời thơ Tố Hữu để kết thúc những dòng tản mạn này

                                                  Ngọt bùi nhớ lúc đắng cay

                                             Ra sông nhớ suối có ngày nhớ đêm

                                                                                Cự Nẫm, tháng 9 – 2015

                                                                                      Hoàng Minh Điệt

TIN MỚI

Tuyển sinh bổ sung vào lớp 10 năm học 2020-2021

Thực hiện quyết định số 1663/QĐ-UBND ngày 22/5/2020 quyết định về việc phê duyệt kế hoạch tuyển sinh lớp 10...

Kế hoạch tổ chức lễ kỷ niệm 40 năm thành lập Trường THPT Hùng Vương

SỞ GD&ĐT QUẢNG BÌNH TRƯỜNG THPT HÙNG VƯƠNG Số: 01-2020 /KH-HV CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM    Độc Lập – Tự Do –...